BÁO CÁO TÓM TẮT 20 NĂM HOẠT ĐỘNG HỘI MỸ NGHỆ KIM HOÀN ĐÁ QUÝ TP. HỒ CHÍ MINH

HỘI MỸ NGHỆ KIM HOÀN ĐÁ QUÝ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH



Số: 2048/BC-2010/SJA-VP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

TP. Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 11 năm 2010

BÁO CÁO TÓM TẮT

20 NĂM HOẠT ĐỘNG

HỘI MỸ NGHỆ KIM HOÀN ĐÁ QUÝ TP. HỒ CHÍ MINH

(22/11/1991 – 22/11/2010)

 

I. QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP HỘI MỸ NGHỆ KIM HOÀN ĐÁ QUÝ TP. HỒ CHÍ MINH

Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý TP. Hồ Chí Minh được thành lập theo Quyết định số 118/QĐ-UB ngày 06/04/1991 của Ủy ban Nhân dân TP. Hồ Chí Minh với tên gọi ban đầu là Hội Mỹ nghệ Vàng bạc Đá quý TP. Hồ Chí Minh.

Khi đất nước thống nhất, TP. Hồ Chí Minh được xây dựng thành một trung tâm kinh tế – văn hóa lớn của cả nước và là một vùng đất hứa hẹn nhiều tiềm năng phát triển. Do vậy, đây là một điểm hẹn của hầu hết lực lượng lao động các ngành nghề đến sinh cơ lập nghiệp, trong đó có thợ bạc (thợ kim hoàn) từ khắp nơi trên cả nước hội tụ về, làm cho ngành kim hoàn thành phố mang một bản sắc rất độc đáo, phong phú và đa dạng. Anh em thợ bạc từ khắp nơi về đây, đồng thời cũng mang theo những tinh hoa, những nét đặc sắc nhất về kỹ thuật và tay nghề của từng miền, do đó có thể nói rằng TP. Hồ Chí Minh là nơi thể hiện rất rõ nét bản sắc ngành trang sức kim hoàn của tất cả vùng miền trên cả nước.

Bên cạnh sự phát triển chung của mọi ngành nghề tại TP. Hồ Chí Minh, ngành kim hoàn được sự quan tâm của Nhà nước đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Từ những chành lò hoạt động tự phát đã hình thành những cơ sở, cửa hàng, công ty chuyên sản xuất kinh doanh mặt hàng trang sức kim hoàn có thương hiệu, có tư cách pháp nhân và được Nhà nước công nhận là một thành phần kinh tế xã hội.

Năm 1990, một số các vị đàn anh trong nghề nhận thấy nghề kim hoàn cần phải có một tổ chức nhằm liên kết những người đang làm nghề với mục đích: “Đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau, đồng thời học hỏi trao đổi những kinh nghiệm, những kỹ thuật đặc sắc của các miền, từ đó lưu trữ những tinh hoa bản sắc của ngành nghề cho đời con cháu sau này, giáo dục cho con cháu truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, ghi công lập đức, làm điều phước thiện để trả ơn tổ nghiệp.”

Từ mục đích cao quý đó, được sự cho phép của Ủy ban Nhân dân TP. Hồ Chí Minh, Ban vận động thành lập Hội ra đời gồm các ông:

Trần Văn Bé

Nguyễn Văn Xẹt

Đoàn Thế Lập

Nguyễn Văn Đảnh

Nguyễn Văn Minh

Nguyễn Hữu Nghĩa

Võ Văn Khách

Phạm Văn Tám

Trà Văn Tâm

Nguyễn Văn Thành

Trần Văn Tư

Vương Vinh

Võ Văn Phúc

Nguyễn Thành Chung

Từ ban vận động này, Hội tổ chức Đại hội nhiệm kỳ đầu tiên ngày 22/11/1990, đến ngày 06/04/1991, Ủy ban Nhân dân TP. Hồ Chí Minh cho phép thành lập Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý TP. Hồ Chí Minh chính thức ra đời và hoạt động đến hôm nay.

Ban chấp hành Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý TP. Hồ Chí Minh các nhiệm kỳ vừa qua cùng toàn thể hội viên, thợ thầy, các doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất vàng bạc TP. Hồ Chí Minh xin trân trọng ghi nhớ công lao của các vị trong Ban vận động cũng như các vị đồng nghiệp đã bỏ nhiều công sức để thành lập Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý TP. Hồ Chí Minh hôm nay.

Trải qua 20 năm hoạt động, ngành kim hoàn TP. Hồ Chí Minh đã nhanh chóng hòa nhập nền kinh tế – xã hội của thành phố và cũng đã trải qua bao thăng trầm theo sóng gió của kinh tế thị trường, nhưng có thể nói rằng Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý TP. Hồ Chí Minh đã trở thành một mái nhà chung để người lao động, các doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh trong ngành dựa vào nhau, hỗ trợ nhau cùng chung sức, gắn bó vượt qua những giai đoạn khó khăn của nền kinh tế đất nước.

Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý TP. Hồ Chí Minh với những bước đi chập chững ngày đầu, sau 20 năm đã trở thành một trong những tổ chức xã hội nghề nghiệp hoạt động có hiệu quả, đúng với mục tiêu, tôn chỉ đã đề ra, với những hoạt động có ý nghĩa mang lợi ích cho cộng đồng xã hội, đã giúp cho ngành kim hoàn TP. Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung ngày một vững mạnh và cùng phát triển.

II. ĐÁNH GIÁ THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN

1. Thuận lợi

1.1. Trong suốt quá trình 20 năm qua, Hội luôn được sự quan tâm của Thành Ủy – Ủy ban Nhân dân TP. Hồ Chí Minh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP. Hồ Chí Minh và các sở, ban, ngành tại TP. Hồ Chí Minh, luôn được tạo điều kiện thuận lợi để hoạt động.

1.2. Ban chấp hành Hội đứng trước mọi biến động của thị trường luôn có sự đoàn kết, gắn bó và thống nhất hành động để tồn tại và phát triển. Từ nhiệm kỳ III, hoạt động của Hội đã dần đi vào nề nếp, mỗi tháng, quý, năm, Hội đều có những chương trình hành động rõ nét nhằm mang lại lợi ích cho cộng đồng và cho đồng nghiệp trong Hội, từ đó ngày càng được sự hưởng ứng nhiệt tình của đại đa số anh chị em hội viên.

1.3. Trước sự lạc hậu của phương pháp sản xuất nữ trang Việt Nam, bằng sự tranh thủ của mình, Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý TP. Hồ Chí Minh đã được Hội đồng Vàng Thế giới hỗ trợ tích cực và giúp đỡ tạo điều kiện để các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nữ trang vàng tại Việt Nam hội nhập với kỹ thuật sản xuất tiên tiến, tìm kiếm cơ hội hợp tác với đối tác quốc tế, sự hỗ trợ này đã tạo động lực cho sự phát triển trong sản xuất và kinh doanh trang sức vàng tại TP. Hồ Chí Minh trong suốt 15 năm qua.

1.4. Chính sách của Nhà nước đã dần đổi mới theo hướng tạo điều kiện thông thoáng. Các doanh nghiệp đã đầu tư thiết bị công nghệ sản xuất hiện đại. Khoảng cách công nghệ dần được thu hẹp, tiếp cận được với các nước phát triển ngành kim hoàn trong khu vực.

2. Khó khăn

2.1. Nhân lực Ban chấp hành có đến 80% là chủ doanh nghiệp, 10% là nghệ nhân kim hoàn, 10% là các ngành khác có liên quan; các Trưởng ban chuyên môn chủ yếu là kiêm nhiệm, không chuyên trách nên hoạt động thiếu thường xuyên, liên tục gặp không ít khó khăn trong công tác tổ chức và điều hành.

2.2. Hội phí của hội viên đóng góp hằng năm chỉ đạt 50-60% tổng số hội viên. Mặc dù văn phòng đã có thông báo nhắc nhở nhưng rất khó thu hội phí, làm cho công tác hoạt động của Hội khó khăn hơn, không đủ kinh phí thực hiện các chương trình hành động hỗ trợ hội viên. Các ủy viên làm công tác chuyên môn cũng không có chế độ nên gặp khó khăn trong việc quy trách nhiệm cho từng thành viên.

2.3. Nguồn kinh phí hạn hẹp không đủ triển khai các chương trình có quy mô. Các dự án làm kinh tế để gây quỹ hoạt động Hội không khả thi nên khó thực hiện.

2.5. Vàng nguyên liệu, vàng ký, vàng hạt từ năm 2004 đến nay biến động liên tục, giá cao ngất ngưỡng làm thị trường vàng nữ trang lâm vào cảnh khốn đốn, mãi lực thị trường rất chậm, các giao dịch về vàng đôi lúc bị gián đoạn, đình trệ, chưa từng xảy ra trong những thập niên vừa qua. Doanh nghiệp kinh doanh và sản xuất gặp khó khăn, các đơn vị sản xuất nhỏ không trụ nổi phải giảm bớt thợ kim hoàn, có những đơn vị sản xuất tạm ngưng, chuyển sang lĩnh vực hoạt động khác. Tuy nhiên, những doanh nghiệp kinh doanh và sản xuất có mối quan hệ lâu năm, khách hàng ổn định vẫn hoạt động bình thường.

Nhìn chung, gần đây vai trò của Hội được nâng lên, hội viên tham gia ngày càng đông, nhiều hoạt động mang lợi ích thiết thực cho cộng đồng hội viên. Tiêu biểu trong 20 năm qua có những hoạt động đem lại các kết quả như sau:

III. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

1. Công tác tổ chức, xây dựng, phát triển Hội

1.1. Nhiệm kỳ I có 21 ủy viên. Trong quá trình hoạt động những năm đầu mới thành lập, nội bộ bất ổn gây mâu thuẫn kéo dài, Ban chấp hành nhiệm kỳ I (1991-1995) chỉ hoạt động từ năm 1994 đến giữa năm 1995, sau đó lại mất đoàn kết bị tạm đình chỉ hoạt động ngày 18/11/1995. Đến tháng 1/1996, Hội được UBND TP. Hồ Chí Minh cho phép tiếp tục hoạt động và tổ chức Đại hội bầu Ban chấp hành mới nhiệm kỳ II với 21 ủy viên, hoạt động được năm đầu thì lại xảy ra thưa kiện, nội bộ tố cáo có tham nhũng, Thanh tra thành phố tiến hành thanh tra, quá trình thanh tra kết luận không có tham nhũng vì Hội không có hoạt động kinh tế, tài chính của Hội chủ yếu từ nguồn đóng góp của các ủy viên Ban chấp hành và hội phí của hội viên để hoạt động. Tài chính của Hội luôn là con số âm… Hội chính thức hoạt động có khởi sắc từ cuối nhiệm kỳ II cho đến nay. Do yêu cầu công tác Hội hiện nay, nhiệm kỳ IV vừa qua Đại hội đã bầu 33 ủy viên Ban chấp hành.(nhiệm kỳ 2005-2010) và Hội là thành viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP. Hồ Chí Minh.

1.2. Qua 4 nhiệm kỳ hoạt động, tên Hội được đổi 3 lần. Đầu tiên là Hội Mỹ nghệ Vàng bạc Đá quý (1991-1996), Hội Mỹ nghệ Kim hoàn (1996-2005) và hiện nay là Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý TP. Hồ Chí Minh. Trụ sở Hội đã 5 lần thay đổi. Lúc mới thành lập, trụ sở đặt tại 36 Phạm Đình Hổ, Q.6, rồi chuyển về 338 Cao Đạt, Q.5, dời về 156 Lê Hồng Phong, Q.5, sau đó chuyển đến 80/28 Nguyễn Trãi, Q.5, cuối cùng trụ sở Hội được chuyển về Đền thờ Tổ Kim hoàn – Lệ Châu Hội Quán, 586 Trần Hưng Đạo, P.14, Q.5, từ năm 2000 cho đến nay, được sự đồng tình của hội viên.

1.3. Ban chấp hành tập trung xây dựng các ban công tác cũng xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của Hội, đã xây dựng được 9 ban chuyên môn , 7 tổ chức trực thuộc và 1 đơn vị thành viên. Các tổ chức thành viên và đơn vị trực thuộc hoạt động có hiệu quả, những mục tiêu đều hướng tới quyền lợi của hội viên, điển hình là Câu lạc bộ Giám đốc Doanh nghiệp Vàng bạc Đá quý, Trung tâm Dạy nghề Mỹ nghệ Kim hoàn, Câu lạc bộ Truyền thống Mỹ nghệ Kim hoàn, Bản tin Kim Hoàn, Chi hội Bà Chiểu – Gò Vấp – Thị Nghè, Chi hội Ph Nhuận. Tại Hội Quán Lệ Châu, nơi thờ cúng tổ nghiệp kim hoàn, nơi tâm linh của nghề nghiệp, hằng năm đón từ 5.000 đến 7.000 lượt doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và thợ kim hoàn, trong đó có những doanh nghiệp và thợ kim hoàn ở xa như Vũng Tàu, Đà Nẵng, Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Bình Dương… đến chiêm bái, tưởng nhớ các bậc tiền nhân có công khai sáng ngành mỹ nghệ kim hoàn để hậu thế có được một ngành nghề cao quý hôm nay.

1.4. Phát triển hội viên: Ngày đầu thành lập, Hội có 28 hội viên. Trải qua 4 nhiệm kỳ, hiện nay có 1.550 hội viên, bình quân tăng 5,4%/năm, chất lượng hội viên tham gia được quan tâm nhiều hơn. Nhiều hoạt động mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng hội viên, từ đó số hội viên tham gia ngày càng đông.

1.5. Công tác tổ chức tôn vinh công nhận nghệ nhân: Bắt đầu từ năm 1996 đến nay, Hội 5 lần tổ chức xét và làm lễ tôn vinh công nhận 56 Nghệ nhân Kim hoàn TP. Hồ Chí Minh nhằm ghi nhận những công lao đóng góp của các nghệ nhân có quá trình lâu năm gắn bó với nghề nghiệp, có nhiều giải thưởng trong các lần hội chợ nữ trang trong và ngoài nước, có công lớn trong việc đào tạo nghề kim hoàn kế thừa, đóng góp nhiều thành tích cho việc giữ gìn bảo tồn, phát triển ngành truyền thống mỹ nghệ kim hoàn.

2. Công tác xúc tiến thương mại sản xuất và hỗ trợ xuất khẩu

2.1. Hoạt động xuất nhập khẩu vàng nguyên liệu và vàng nữ trang: Đối với vàng nguyên liệu, vàng ký, vàng hạt cả nước nhập khẩu và tiêu thụ ước khoảng 710 tấn trong 15 năm qua. Riêng TP. Hồ Chí Minh tiêu thụ khoảng 80% số lượng vàng nhập khẩu vào Việt Nam, ước khoảng 570 tấn. Như vậy đã đáp ứng nhu cầu phục vụ cho việc sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Đối với vàng trang sức mỹ nghệ, sản xuất và tiêu thụ hằng năm đều tăng. Từ năm 1991-2010, cả nước sản xuất và tiêu thụ ước khoảng 25,5 tấn vàng trang sức mỹ nghệ. Riêng TP. Hồ Chí Minh đã tiêu thụ gần hơn 80%, tức khoảng 205 tấn vàng trang sức mỹ nghệ. Gần đây, doanh thu xuất khẩu vàng trang sức vào khoảng 20-30 triệu USD/năm. Vàng nữ trang của Việt Nam được xuất sang thị trường Đức, Đan Mạch, Pháp… Riêng thị trường Mỹ chủ yếu bằng con đường gia công tái xuất hoặc xách tay với số lượng không đoán được, đối tác là Việt kiều. Năng lực sản xuất của TP. Hồ Chí Minh vào khoảng 21 tấn sản phẩm/năm. Hàng đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu sang thị trường châu Âu vào khoảng 1,5 triệu sản phẩm/năm, tập trung ở các đơn vị có đầu tư thiết bị công nghệ, lực lượng có tay nghề, năng lực tài chính.

Những số liệu trên đây Hội tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau, chưa phải số liệu cập nhật chính xác, chỉ mang tính tham khảo. (Nguồn từ Hội đồng Vàng Thế giới tại Việt Nam, các doanh nghiệp có hàng xuất nhập khẩu).

2.2. Hoạt động xúc tiến thương mại: Được sự hỗ trợ từ văn phòng Hội đồng Vàng Thế giới tại Việt Nam, Hội đã tổ chức cho 72 doanh nghiệp với 100 doanh nhân tham dự các hội chợ triển lãm nữ trang quốc tế tại Mỹ, Ý, Thái Lan, Hồng Kông, Thượng Hải, Dubai… nhằm tìm kiếm cơ hội hợp tác với các doanh nghiệp nước ngoài trong sản xuất, kinh doanh vàng bạc. Các hội chợ chuyên ngành trong nước do Công ty Vàng bạc Đá quý SJC tổ chức hằng năm tại TP. Hồ Chí Minh đã quy tụ hàng trăm doanh nghiệp trong, ngoài nước tham dự và tạo điều kiện cho các nghệ nhân tham gia thi sản phẩm nữ trang. Trong 20 năm, có 2.453 sản phẩm dự thi, trong đó 377 sản phẩm đoạt giải, gồm 73 giải Nhất, 96 giải Nhì, 116 giải Ba và 91 giải Khuyến khích. Những sản phẩm tham gia hội thi đều do công sức khéo léo, tài hoa của các nghệ nhân, thợ kim hoàn làm ra. Có những tác phẩm mang tính nghệ thuật, đạt giải cao được Hội đồng Vàng thế giới chọn gửi thi ở hội chợ quốc tế, những tác phẩm đạt thứ hạng cao vàng, bạc, đồng đều được Ban tổ chức Hội chợ Nữ trang tổ chức bán đấu giá, làm rạng rỡ thêm hình ảnh ngành nghề truyền thống mỹ nghệ kim hoàn đá quý TP. Hồ Chí Minh. Ngoài hội chợ và hội thi sản phẩm nữ trang, Công ty Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận còn tổ chức hội thi thiết kế mẫu nữ trang 2 năm/lần. Đây là hoạt động rất mới cho ngành kim hoàn thành phố đang rất cần một lực lượng có tư duy, sáng tạo thêm cái mới cho ngành trang sức kim hoàn Việt Nam, nên đã quy tụ rất nhiều bạn trẻ là sinh viên các trường mỹ thuật công nghiệp, các nhà làm công tác thiết kế, tạo mẫu chuyên nghiệp tham gia. Nhiều mẫu thiết kế độc đáo chuyển tải được vẻ đẹp của thiên nhiên, hòa quyện với môi trường cuộc sống xung quanh, mang nhiều dấu ấn văn hóa Việt Nam, đã được hội đồng chấm thi tuyển chọn để thực hiện các tác phẩm nghệ thuật có giá trị và các sản phẩm trang sức mỹ nghệ kim hoàn rất hữu dụng.

2.3. Về sản xuất kinh doanh: Các doanh nghiệp sản xuất đều có quy mô nhỏ chiếm 90%, công nghệ thiết bị lạc hậu, manh mún, chất lượng sản phẩm còn bỏ ngỏ. Hàng sản xuất ra chủ yếu phục vụ trong nước là chính, chưa có sức cạnh tranh trên thị trường khu vực. Thành phố hiện nay chỉ có vài doanh nghiệp có điều kiện để tổ chức sản xuất lớn và sản phẩm đạt đủ tiêu chuẩn xuất khẩu nhưng mang tính nhỏ lẻ và tự phát. Nếu các doanh nghiệp chúng ta không liên kết lại thì sản phẩm hàng nữ trang của Việt Nam sẽ bị mai một không đủ sức tồn tại khi Việt Nam tham gia kinh tế thế giới WTO vào cuối năm 2006. Còn vấn đề kinh doanh trong cộng đồng doanh nghiệp chủ yếu là bán lẻ, nhân viên bán hàng chiếm đến 90% chưa được đào tạo bán hàng chuyên nghiệp, cạnh tranh thiếu lành mạnh trong kinh doanh. Hiện nay vàng trang sức nhập khẩu vào nước ta phải chịu thuế nhập khẩu từ 40%-60% tùy theo loại hàng. Khi Việt Nam gia nhập kinh tế thế giới,  chắc chắn phải hạ thấp hoặc dỡ bỏ hàng rào thuế quan, phi thuế quan đối với mặt hàng này thì cộng đồng doanh nghiệp hội viên nghĩ gì khi hàng nữ trang của các nước sẽ có mặt với lượng hàng hóa dồi dào, mẫu mã phong phú, chất lượng đảm bảo, phong cách bán hàng hiện đại. Do vậy, sau hội nghị này, Hội sẽ tiến hành khảo sát và xây dựng những tiêu chí và điều kiện thống nhất cho hàng nữ trang xuất khẩu, tiêu thụ trong nước để những doanh nghiệp hội viên có đủ điều kiện sẽ được hỗ trợ tham gia thị trường xuất khẩu, phấn đấu đạt từ 25-30 triệu USD/ năm, những doanh nghiệp hội viên chưa đủ điều kiện sẽ được liên kết lại thành một lực lượng gia công phục vụ thị trường trong nước, cạnh tranh với hàng ngoại nhập, nhằm khắc phục tình trạng manh mún, thả nổi chất lượng và giá cả hiện nay, đồng thời kiến nghị với Nhà nước về các chính sách để thúc đẩy ngành nữ trang phát triển, nhất là phải xem ngành vàng bạc, đá quý là một ngành kinh tế, kỹ thuật, để có những chủ trương chiến lược và công cụ quản lý như: nguồn nhân lực, thiết bị công nghệ, đầu tư… Đồng thời để vận động các doanh nghiệp buôn bán lẻ phải được đào tạo nghiệp vụ bán hàng chuyên nghiệp, hiện nay Hội đã thường xuyên mở lớp đào tạo đặc biệt cho loại hình này.

3. Công tác khoa học kỹ thuật

3.1. Về đào tạo dạy nghề: Đã xây dựng một Trung tâm Dạy nghề Mỹ nghệ Kim hoàn với kinh phí đầu tư ban đầu là 400 triệu đồng do các ủy viên Ban chấp hành đóng góp, được Uỷ ban Nhân dân TP. Hồ Chí Minh cho phép hoạt động. Đây là một ước nguyện nhiều năm của Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý TP. Hồ Chí Minh. Trung tâm đi vào hoạt động từ tháng 7/2004, đến nay đã đào tạo được 1.263 học viên, đã cấp chứng chỉ tốt nghiệp nghề cho 1.008 học viên, giới thiệu việc làm ổn định cho 321 học viên. Dù Trung tâm gặp rất nhiều khó khăn về tài chính nhưng với trách nhiệm truyền nghề cho những ai yêu nghề, muốn có một nghề để ổn định cuộc sống nhưng không có điều kiện đóng học phí . Ban chấp hành Hội chỉ đạo Trung tâm tiếp nhận đào tạo dạy nghề miễn phí cho các đối tượng diện chính sách xã hội trong thời gian qua. Trung tâm đã đào tạo nghề miễn phí 100% cho 226 học viên của các quận Thủ Đức, Tân Bình, Tân Phú, Phú Nhuận… bằng cách Ban chấp hành vận động các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh vàng bạc, đá quý trao học bổng cho học viên, sau khi học viên tốt nghiệp sẽ được giao về cho các đơn vị tài trợ học bổng. Tổng số học bổng được trao trong thời gian qua là 226 học viên, với 223 xuất, số tiền 541,9 triệu đồng. Việc làm nhân ái đầy tình nghĩa này đã được báo, đài trung ương và địa phương tuyên truyền và được các đơn vị quận, huyện đề nghị nhà nước khen thưởng cho Trung tâm. Hiện Trung tâm có 118 học viên đang được đào tạo.

3.2. Hội thảo cải tiến, sáng chế, phát minh khoa học kỹ thuật – Hoạt động hội chợ hằng năm: Ban tổ chức Hội chợ Nữ trang kết hợp với các đơn vị và chuyên gia nước ngoài có những gian hàng trưng bày và giới thiệu các thiết bị công nghệ mới phục vụ ngành kim hoàn. Tại các hội chợ đã tổ chức các hội thảo chuyên đề những lĩnh vực ngành quan tâm, hằng năm có khoảng 300 hội viên đến tìm hiểu, trong liên tục 20 năm qua, có khoảng 4.500 hội viên và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh vàng quan tâm tham dự các hội thảo. Hội phối hợp Công ty DC tổ chức 7 đợt hội thảo giới thiệu những thành tựu khoa học, các thiết bị công nghệ mới của thế giới và các thiết bị do các kỹ sư, chuyên gia trong nước cải tiến phục vụ cho ngành kim hoàn, có 2.500 lượt hội viên tham dự, nghiên cứu từng chuyên đề phù hợp đối tượng. Ngoài ra, Hội còn tổ chức 2 hội thảo tiêu biểu tìm hiểu về xuất khẩu nữ trang vào thị trường Mỹ và nâng cao quản lý chất lượng vàng nữ trang, có khoảng 400 doanh nghiệp quan tâm tham dự.

4. Công tác tư vấn, phản biện, giám định xã hội về chính sách của Nhà nước

4.1. Tổ chức cho hội viên tham gia góp ý Nghị định 174 của Chính phủ và Thông tư hướng dẫn 07 của Ngân hàng Nhà nước. Hội viên đặc biệt quan tâm đến Điều 7, 8, 9 và 12 là không thực tế với các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh vàng. Hội đã có kiến nghị và nhiều tổ chức khác cùng kiến nghị. Sau đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định 63 ngày 16/06/2003, sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 174, làm cho hoạt động kinh doanh thông thoáng hơn.

4.2. Hiệp hội Kinh doanh Vàng Việt Nam cùng Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý TP. Hồ Chí Minh và nhiều tổ chức có liên quan khác kiến nghị Bộ Tài chính giảm thuế nhập khẩu vàng. Qua nhiều lần kiến nghị, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định 25/QĐ-BTC ngày 15/03/2004 về việc giảm thuế nhập khẩu vàng ký từ 3% xuống 1%, vàng nguyên liệu từ 1% xuống 0,5%. Hiện nay, Hội tiếp tục có những kiến nghị Nhà nước xem xét, tiếp tục đổi mới hơn nữa chủ trương chính sách đối với ngành vàng, bạc, đá quý, nhất là đề nghị giảm thuế với mặt hàng kim cương và đá quý.

5. Công tác tài chính

Kinh phí hoạt động của Hội chủ yếu từ nguồn thu hội phí và đóng góp của các quý vị trong Ban chấp hành. Tài sản và tài chính của Hội được quản lý thống nhất theo quy định Nhà nước. Hội không có tổ chức hoạt động kinh tế, chưa thực hiện các dịch vụ làm kinh tế gây quỹ hoạt động Hội.

6. Công tác văn hóa nghệ thuật – xã hội – thể dục thể thao

6.1. Văn hóa nghệ thuật – nâng cao dân trí: Thông qua Câu lạc bộ Truyền thống Mỹ nghệ Kim hoàn để làm công tác giáo dục truyền thống cho hội viên. Hội vận động, tạo mọi điều kiện tinh thần và vật chất để các nghệ nhân, thợ giỏi kim hoàn có điều kiện sáng tác nghệ thuật kim hoàn, đến nay đã có 24 tác phẩm nghệ thuật được giới thiệu triển lãm và trưng bày thường xuyên tại Câu lạc bộ. Đây là những hoạt động rất có ý nghĩa, mang đậm nét truyền thống của nghề cổ truyền dân tộc. Nhân kỷ niệm Sài Gòn 300 năm, Câu lạc bộ có gian hàng trưng bày nhiều sản phẩm có giá trị truyền thống được Ban tổ chức đánh giá cao. Công tác nâng cao dân trí thông qua Bản tin Kim Hoàn và trên các phương tiện thông tin báo đài trung ương và địa phương, giới thiệu các hình ảnh hoạt động của nghề kim hoàn. Ngoài ra, Hội còn cung cấp tài liệu cho Công ty Phát hành sách Việt Nam viết sách về nghề mỹ nghệ kim hoàn, tất cả đều được cộng đồng hội viên đánh giá rất cao.

6.2. Hoạt động xã hội từ thiện: Hội vận động cộng đồng hội viên tham gia đóng góp xây 9 căn nhà tình nghĩa trị giá 160.901.000 đồng, nuôi 2 bà mẹ Việt Nam Anh hùng đến cuối đời, xây 48 căn nhà tình thương trị giá 493.000.000 đồng, xây 9 cây cầu giao thông nông thôn trị giá 1.290.000.000 đồng. Ngoài ra, Hội hoạt động rất tích cực cho công tác lợi ích cộng đồng và xã hội như: đóng góp Quỹ Khuyến học 57.000.000 đồng, Quỹ Tài năng trẻ Việt Nam 57.000.000 đồng, Quỹ Người nghèo thành phố 123.500.000 đồng, hiến 9 đơn vị máu, khám chữa bệnh cho hộ nghèo 10 lần, trị giá 513.000.000 đồng, ủng hộ nạn nhân sóng thần, cứu trợ đồng bào bị thiên tai lũ lụt 13 đợt với số tiền 1.051.835.000 đồng, tặng sổ tiết kiệm cho hộ nghèo, xây trường học, trạm y tế , trại dưỡng lão, làng thanh niên trị giá 383.000.000 đồng, chia sẻ, giúp đỡ đồng nghiệp gặp khó khăn, ma chay… trị giá 46.500.000 đồng, 2 tấn gạo, 4.000 quyển tập…

6.3. Thể dục thể thao: Hiện Hội có 1 đội bóng đá, 1 đội quần vợt, 1 đội cầu lông với hơn 95 vận động viên thường xuyên tập luyện. Đã tổ chức giao lưu và thi đấu 23 lần với 505 lượt vận động viên tham gia trong các bộ môn bóng đá, quần vợt và cầu lông với các câu lạc bộ trong và ngoài thành phố.

7. Thi đua khen thưởng

7.1. Tại Đại hội nhiệm kỳ IV (2005-2010) và kỷ niệm 15 năm thành lập Hội (1991-2005), Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng Khen cho Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý TP. Hồ Chí Minh theo Quyết định số 1241/QĐ-TTG ngày 13/09/2006.

7.2. Ủy ban Nhân dân TP. Hồ Chí Minh tặng Cờ truyền thống theo Quyết định số 2734/QĐ ngày 16/06/2006 do Hội có thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ liên tục nhiều năm, góp phần tích cực trong công tác xây dựng và phát triển thành phố.

7.3. Hội Kim hoàn Việt Nam tặng 2 Cờ thi đua Đơn vị xuất sắc , 4 Kỷ niệm chương, 2 Bằng Khen tập thể Hội, 7 Bằng Khen tập thể các đơn vị, 26 Bằng Khen cá nhân có nhiều thành tích góp phần xây dựng Hội phát triển.

7.4. Ủy ban Nhân dân TP. Hồ Chí Minh tặng Bằng Khen cho 13 tập thể và 80 cá nhân có thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ liên tục và bảo tồn phát triển ngành nghề truyền thống mỹ nghệ kim hoàn.

7.5. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP. Hồ Chí Minh tặng Bằng Khen cho 20 tập thể và 38 cá nhân có thành tích tích cực tham gia các chương trình hành động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP. Hồ Chí Minh.

7.6. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quận 5, TP. Hồ Chí Minh tặng Bằng Khen về thành tích tham gia các chương trình hành động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quận 5.

7.7. Ủy ban Nhân dân các tỉnh Kon Tum, Long An, Đồng Tháp, Cà Mau tặng 7 Bằng Khen cho tập thể, 7 Bằng Khen cho cá nhân vì thành tích đóng góp công tác xã hội từ thiện, xây cầu giao thông nông thôn.

7.8. Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý TP. Hồ Chí Minh tặng Bằng khen cho 21 tập thể và 87 cá nhân có thành tích đóng góp xây dựng phát triển Hội, 11 Giấy Khen cá nhân có thành tích hoàn thành xuất sắc công tác dạy nghề.

8. Công tác văn phòng

Sau Đại hội lần III năm 2000, Văn phòng Hội được chuyển về 586 Trần Hưng Đạo, phường 14, quận 5, là Đền thờ Tổ nghề Kim hoàn, Di tích Lịch sử Quốc gia Hội Quán Lệ Châu. Đây là một thuận lợi rất lớn để Hội có điều kiện hoạt động tốt hơn. Văn phòng Hội là cơ quan tham mưu giúp việc cho Ban chấp hành Hội, có bộ máy chuyên trách gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả, hiệu suất công tác của từng cán bộ chuyên môn được nâng cao, tự giác nêu cao tinh thần trách nhiệm với công việc được giao. Đến nay, Hội có website chính thức tại địa chỉ www.hoikimhoansaigon.org. Văn phòng Hội đã có nhiều cố gắng, dù kinh phí hạn hẹp nhưng vẫn triển khai hoạt động tốt, giúp Ban chấp hành tổ chức lãnh đạo, hoàn thành các chương trình công tác của Hội. Hội chấp hành nghiêm chỉnh các nghị quyết, quy chế và tham gia tích cực các chương trình hành động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP.Hồ Chí Minh, tranh thủ sự hướng dẫn của Sở Nội vụ, Sở Thương mại TP. Hồ Chí Minh và thực hiện các chế độ báo cáo theo quy định.

IV. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM

1. Bài học về sự đoàn kết

Trải qua 20 năm hoạt động với những thành quả đạt được trong việc đóng góp cho xã hội, cho ngành nghề, Hội không tránh khỏi có những giai đoạn sóng gió, thăng trầm, do một vài cá nhân suy nghĩ lệch lạc, làm hoạt động Hội bị chựng lại (1998). Nhưng nhờ có sự đoàn kết nhất trí của các ủy viên Ban chấp hành tâm huyết, ngồi lại kiểm điểm, rút kinh nghiệm về lề lối làm việc với tinh thần thẳng thắn xây dựng, đoàn kết nhằm hướng tới những hoạt động vì lợi ích chung của hội viên. Đặc biệt là sự đóng góp tích cực của những đồng nghiệp, những bậc lão thành trong nghề đã đưa Hội vượt qua những khủng hoảng nội bộ và sau những lần như vậy Hội đã trưởng thành và mạnh hơn.

2. Bài học về sự coi trọng đội ngũ trẻ kế thừa trong ngành

Trước khi có Hội, trình độ kỹ thuật và công nghệ sản xuất nữ trang Việt Nam rất lạc hậu. Chính đội ngũ những người trẻ trong ngành (cách đây 15 năm) đã có những bước đột phá vào lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, đã tìm tòi, sáng tạo, năng động học tập các kỹ thuật tiên tiến của thế giới và mạnh dạn chịu trách nhiệm trước Nhà nước trong việc đưa công nghệ hiện đại vào quy trình sản xuất nữ trang tại Việt Nam, khởi đầu là lực lượng cán bộ trẻ của các công ty PNJ, SJC, những cánh chim đầu đàn của ngành kim hoàn Việt Nam và thành phố. Những người trẻ này đã được Ban chấp hành Hội ưu ái mời vào Ban chấp hành các nhiệm kỳ II, III và IV (hiện nay) để họ tiếp tục phát huy kiến thức và kỹ thuật cho công nghệ sản xuất nữ trang TP. Hồ Chí Minh thông qua các chương trình hành động của Hội.

3. Bài học về sức mạnh tập thể trong sự đấu tranh không khoan nhượng trước những tư tưởng hẹp hòi, thiếu trung thực trong nội bộ, tiến tới xây dựng bộ máy hoạt động chặt chẽ

Một tập thể, một tổ chức vững mạnh luôn chứa đựng trong tập thể đó, tổ chức đó những con người tâm huyết vì lợi ích chung. Hội không tránh khỏi những lúc suy yếu vì một vài thành viên dựa vào Hội để mưu cầu mục đích cá nhân, gây nên sự hoang mang, xao động trong Hội viên, nhưng Hội vẫn tồn tại đến ngày nay chính vì Ban chấp hành Hội các thời kỳ đã biết vận dụng sức mạnh tập thể để giáo dục, đấu tranh, xây dựng những thiểu số lệch lạc trở lại những mục tiêu, tôn chỉ hoạt động của Hội.

4. Bài học luôn luôn dựa vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong mọi tiêu chí và quan điểm hoạt động

20 năm qua, hoạt động sản xuất kinh doanh vàng bạc luôn phát triển nhờ những chính sách, đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước cho ngành kim hoàn. Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý TP. Hồ Chí Minh là một tổ chức xã hội nghề nghiệp luôn thực hiện tốt mọi chủ trương, chính sách Nhà nước đề ra. Sự lớn mạnh của Hội chính là từ Ban chấp hành Hội vận động Hội viên và đồng nghiệp thực hiện tốt những chủ trương của Nhà nước, từng bước đẩy lùi tiêu cực, xác lập niềm tin cho người tiêu dùng trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, Hội còn chia sẻ những quan tâm của Đảng và Nhà nước thông qua các hoạt động vì lợi ích cộng đồng xã hội và chăm lo cho người nghèo.

Trên đây là báo cáo tóm tắt công tác 20 năm (1991-2010) của Hội Mỹ nghệ Kim hoàn Đá quý TP. Hồ Chí Minh.

BAN CHẤP HÀNH HỘI MỸ NGHỆ KIM HOÀN ĐÁ QUÝ TP. HỒ CHÍ MINH

Chat zalo
Chat messenger