Hạn ngạch nhập khẩu vàng có liên quan đến lợi ích nhóm?
Thứ năm, 19/05/2011
Việc cơ quan chỉ đạo muốn giữ hạn ngạch nhập khẩu vàng có liên quan đến lợi ích nhóm.
Chuyên gia kinh tế, TS Lê Đăng Doanh đã nhấn mạnh điều này trao đổi với NCĐT về xu hướng các cơ quan chỉ đạo muốn giữ nguyên hạn ngạch nhập khẩu vàng.
TS Lê Đăng Doanh nêu rõ, với mức chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới, có khi đến 2 triệu đồng/lượng như năm 2010, những đơn vị được chỉ định nhập vàng sẽ thu được lợi ích rất lớn. Buôn lậu vàng vì vậy diễn ra rất sôi động, có năm lên đến 20 tấn. Tại sao lại không thể kiểm soát được lượng vàng lớn như vậy? Ai cũng biết là muốn buôn lậu vàng phải có ngoại tệ và tổ chức cả đường dây.
Theo TS Lê Đăng Doanh, cần phải có một thị trường vàng tương tự sàn vàng, cho phép kinh doanh vàng, vàng tín chỉ chứ không nhất thiết là vàng vật chất. Có thể dùng vàng tín chỉ để cầm cố ở ngân hàng nước ngoài. Không cần tung một lượng tiền lớn ra thị trường. Nhưng để làm việc này phải có sự minh bạch trong hoạt động của sàn vàng cũng như xuất nhập khẩu vàng. Khi Ngân hàng Á Châu (ACB) thành lập sàn vàng, Hiệp hội Kinh doanh Vàng đã 8 lần đề nghị nên xây dựng khung pháp lý nhưng đều không được chấp nhận. Cấp chỉ đạo muốn giữ nguyên quyền chỉ định nhập khẩu vàng của mình. Các doanh nghiệp không đồng ý, họ muốn đấu thầu công khai.
Hiệp hội Kinh doanh Vàng đề xuất là phải có tiêu chí, cho phép mua bán, đấu thầu công khai. Cái dở của sàn vàng ACB là chỉ ký quỹ 8-12% mà lại được phép kinh doanh đến 100%. Như vậy, mức độ đầu cơ và rủi ro quá lớn. Các quốc gia khác đều có sàn giao dịch cho mỗi loại hàng hóa. Việt Nam cũng đã có sàn giao dịch cà phê. Cần ủng hộ ý tưởng lập sàn vàng theo thông lệ thế giới. Ký quỹ không nhất thiết là 100% nhưng phải bảo đảm an toàn, tránh việc đầu cơ. Mức ký quỹ 8-12% của ACB là quá thấp.
Chính phủ đang có xu hướng hạn chế việc mua bán vàng trong dân, sẽ rất tốt nếu Ngân hàng Nhà nước mua được số vàng trong dân. Sau đó có thể ký thác số vàng đó với ngân hàng nước ngoài và có được lượng ngoại tệ lớn. Nếu lượng vàng trong dân khoảng 500 tấn thì sẽ tương đương với 22-24 tỉ USD. Đây là lượng ngoại tệ lớn hơn nhiều so với lượng ngoại tệ dự trữ hiện nay.
TS Lê Đăng Doanh cho rằng, đa dạng hóa dự trữ ngoại tệ là cần thiết đối với Việt Nam và mọi quốc gia (ngoài nước Mỹ) nói chung. Lý do đầu tiên là hiện nay, tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động, giá trị USD, euro, yên và nhân dân tệ đều thay đổi. Xu thế USD yếu đi ngày càng rõ. Từ khi đổi mới đến nay, chúng ta không còn phụ thuộc vào đồng rúp chuyển nhượng nữa mà giữ tỉ giá gắn với USD. Dự trữ ngoại tệ chủ yếu cũng là USD. Trong khi đó, giao dịch thương mại phần lớn gắn với Trung Quốc. Chúng ta cũng mua bán với châu Âu và Nhật và dùng USD.
Việt Nam cần phân tích đồng tiền nào sẽ giữ, lên hay xuống giá mà quyết định khôn khéo.
Với tình hình nợ công cao, ngân sách gặp khó khăn, thâm hụt thương mại lớn và thất nghiệp cao như hiện nay, nền kinh tế Mỹ khó có thể phục hồi trong thời gian ngắn. USD vì vậy còn biến động nhiều và có thể tiếp tục xuống giá so với các đồng tiền khác.
Về ý kiến cho rằng nhân dân tệ có thể thay thế USD, TS Lê Đăng Doanh phân tích, kinh tế Mỹ vượt Anh vào năm 1928 nhưng phải đến năm 1944, USD mới thay thế được bảng Anh. USD suy yếu và theo cách tính mới của Quỹ Tiền tệ Quốc tế dựa vào sức mua, kinh tế Trung Quốc sẽ vượt kinh tế Mỹ vào năm 2016. Tuy nhiên, nhân dân tệ khó mà vượt được USD vào năm đó. Ngoài vị thế có được nhờ tỉ trọng xuất khẩu, nhân dân tệ chưa phải là đồng tiền mạnh do hệ thống ngân hàng Trung Quốc chưa phát triển. Uy tín của hệ thống này vẫn còn là một câu hỏi. Vậy nên, không phải vì sẽ vượt qua Mỹ về kinh tế mà nhân dân tệ sẽ thay thế ngay USD.
Việt Nam nên có một rổ ngoại tệ gồm USD, euro, yên và nhân dân tệ. Với sự tăng giá vàng như hiện nay, chúng ta cũng nên tính đến việc dự trữ một lượng vàng nhất định. Năm 2010, Trung Quốc rất khôn ngoan khi mua vào 500 tấn vàng và có lời lớn vì giá vàng tăng.
TS Lê Đăng Doanh nêu rõ, các doanh nghiệp nên sử dụng nhiều đồng tiền, tránh bó cứng vào USD. Những lúc USD mất giá so với yên và euro, doanh nghiệp có thể gặp khó khăn rất lớn.
Để thay đổi thói quen buôn bán bằng USD, Ngân hàng phải trợ giúp và hướng dẫn doanh nghiệp. Nhật và Liên minh châu Âu sẽ không phản đối việc dùng yên và euro để mua bán. Nhưng đối với Trung Quốc, cần thận trọng vì nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc quá lớn. Chúng ta hiện phải dùng USD kiếm được từ các nguồn khác để thanh toán cho Trung Quốc. Nếu dùng nhân dân tệ tức là phải vay thêm từ họ. Vậy ngoài việc phụ thuộc vào hàng hóa, chúng ta lại phụ thuộc thêm về mặt tài chính và ngân hàng. Rủi ro sẽ rất lớn.


